Các nhà kinh tế của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) là Boris Hofmann, Aaron Mehrotra và Jan Paulick đã công bố một bài nghiên cứu (working paper) vào Tháng 7 năm 2026, so sánh việc áp dụng stablecoin tại các thị trường mới nổi với hiện tượng đô la hóa tiền gửi trên hơn 130 nền kinh tế. Nghiên cứu cho thấy các biện pháp kiểm soát vốn làm giảm đô la hóa tiền gửi tới 32 điểm phần trăm, nhưng không ghi nhận tác động có ý nghĩa thống kê đối với dòng tiền stablecoin. Bài nghiên cứu phân tích dữ liệu đô la hóa tiền gửi từ 1990 đến 2019 và dữ liệu dòng chảy stablecoin từ Chainalysis, bao phủ 184 quốc gia từ 2017 đến 2024, kết luận rằng stablecoin vận hành ngoài phạm vi của các công cụ quản lý dòng vốn truyền thống.
Vốn hóa thị trường stablecoin gần như tăng gấp ba kể từ năm 2023, chủ yếu nhờ USDT của Tether và USDC của Circle, hai đồng này cùng chiếm hơn 80% tổng vốn hóa thị trường stablecoin theo bài nghiên cứu. Dòng tiền stablecoin ròng so với GDP tăng từ gần như bằng 0 trên toàn các quốc gia vào năm 2019 lên trung vị khoảng 1,2% GDP vào năm 2021, với một số quốc gia ghi nhận dòng tiền gần 7% GDP. Đến năm 2023, trung vị giảm xuống khoảng 0,9% GDP.
Nhóm nghiên cứu cho biết đô la hóa tiền gửi và dòng tiền stablecoin phản ứng trước các áp lực kinh tế tương tự. Cả hai đều tăng khi tỷ giá của một quốc gia “truyền” mạnh vào lạm phát nội địa, và cả hai đều tăng trong các cuộc khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng ngân hàng tương quan với dòng tiền stablecoin cao hơn nhưng không tương quan với đô la hóa tiền gửi cao hơn. Khủng hoảng nợ công lại cho thấy mô hình ngược, làm tăng đô la hóa tiền gửi thêm 4 đến 6 điểm phần trăm trong vòng một thập kỷ với tác động tối thiểu lên dòng tiền stablecoin. Các tác giả cho rằng mối liên hệ với khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ việc stablecoin hoạt động bên ngoài hệ thống ngân hàng truyền thống, khiến chúng hấp dẫn hơn khi chính ngân hàng là nguồn gây bất ổn.
Các quốc gia yêu cầu phê duyệt để cư dân nắm giữ tài khoản ngân hàng bằng ngoại tệ ghi nhận tỷ lệ đô la hóa tiền gửi thấp hơn khoảng 25 đến 32 điểm phần trăm so với các quốc gia không áp dụng các hạn chế đó, dựa trên dữ liệu từ 2000 đến 2016. Stablecoin không cho thấy phản ứng tương tự; nhóm nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các hạn chế đối với việc sử dụng stablecoin qua biên giới và quy mô dòng tiền stablecoin.
Bài nghiên cứu lý giải sự khác biệt này dựa trên nơi mỗi tài sản lưu thông. Tiền gửi ngân hàng nằm trong các tổ chức được quản lý mà cơ quan giám sát có thể tiếp cận trực tiếp. Stablecoin di chuyển trên các blockchain công khai và có thể được lưu trong các ví không do bên nào lưu ký, nằm ngoài phạm vi của cùng khung pháp lý.
Cả hai dạng đô la hóa đều cho thấy mức độ “tồn tại” cao trong dữ liệu. Khi tỷ lệ đô la hóa tiền gửi của một quốc gia tăng lên, nó có xu hướng duy trì ở mức cao ngay cả sau khi lạm phát hoặc khủng hoảng kích hoạt nó đã qua đi. Các ước lượng tự hồi quy đặt hệ số tồn tại quanh mức 0,8 ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển, một con số không thay đổi kể từ năm 2000.
Nhóm nghiên cứu phát hiện bằng chứng hạn chế cho thấy stablecoin đang thay thế tiền gửi ngân hàng như một công cụ nắm giữ đô la. Kết quả cho thấy nhu cầu stablecoin tại các thị trường mới nổi đến từ những nhóm người dùng khác nhau, có thể trẻ hơn và thiên về công nghệ hơn, thay vì chuyển các khoản tiền gửi đô la hiện có sang hình thức crypto.
Sử dụng mô hình “lạm phát có rủi ro” áp dụng cho 91 nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, các tác giả cho biết mối quan hệ giữa đô la hóa và lạm phát không mang tính tuyến tính. Các quốc gia có mức đô la hóa rất thấp không cho thấy hiệu ứng lạm phát đáng kể. Các quốc gia có mức đô la hóa trung bình cho thấy rủi ro lạm phát cao hơn đôi chút trong phân phối. Các quốc gia có mức đô la hóa cao nhất lại cho thấy rủi ro lạm phát thấp hơn, đặc biệt ở phần đuôi trên của phân phối.
Các tác giả mô tả các nền kinh tế có đô la hóa cao như thể “nhập khẩu” độ tin cậy của đồng đô la Mỹ làm một neo. Bài nghiên cứu ghi nhận bằng chứng hạn chế rằng đô la hóa làm thay đổi cách các cú sốc chính sách tiền tệ lan truyền tới tăng trưởng, lạm phát hoặc tỷ giá.
Các tác giả lưu ý rằng việc áp dụng stablecoin có thể không tiếp tục mở rộng với tốc độ như gần đây và các bài học từ nhiều thập kỷ đô la hóa tiền gửi có thể không áp dụng đầy đủ cho một hệ thống được thiết kế để vận hành ngoài phạm vi tài chính được giám sát.
Bài nghiên cứu của BIS công bố vào Tháng 7 năm 2026 đã phát hiện gì về kiểm soát vốn và stablecoin?
Bài nghiên cứu cho thấy kiểm soát vốn làm giảm đô la hóa tiền gửi từ 25 đến 32 điểm phần trăm dựa trên dữ liệu từ 2000 đến 2016, nhưng không cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đối với dòng tiền stablecoin. Nhóm nghiên cứu cho rằng điều này là do stablecoin di chuyển trên các blockchain công khai và được lưu trong các ví không do bên nào lưu ký, nằm ngoài phạm vi các khung pháp lý truyền thống áp dụng cho tiền gửi ngân hàng.
Dòng tiền stablecoin so với GDP thay đổi như thế nào từ 2019 đến 2023?
Dòng tiền stablecoin ròng so với GDP gần như bằng 0 trên toàn các quốc gia vào năm 2019. Đến năm 2021, dòng tiền trung vị tăng lên khoảng 1,2% GDP, với một số quốc gia ghi nhận dòng tiền gần 7% GDP. Đến năm 2023, trung vị giảm xuống khoảng 0,9% GDP theo dữ liệu Chainalysis bao phủ 184 quốc gia từ 2017 đến 2024.
BIS tìm thấy hệ số tồn tại nào cho đô la hóa?
Các ước lượng tự hồi quy đặt hệ số tồn tại quanh mức 0,8 ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển, một con số không thay đổi kể từ năm 2000. Điều này có nghĩa là một khi tỷ lệ đô la hóa tiền gửi của một quốc gia tăng lên, nó có xu hướng duy trì ở mức cao ngay cả sau khi lạm phát hoặc khủng hoảng kích hoạt nó đã qua đi.
Tin tức liên quan
BIS cảnh báo stablecoin USD đang lách các biện pháp kiểm soát vốn tại các thị trường mới nổi
Lynq hợp tác với Nonco để cung cấp thanh khoản stablecoin 24/7
Nhật Bản phải đối mặt với lợi suất JGB tăng hai chữ số mà không có can thiệp từ BOJ, Brooks cảnh báo
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế: Stablecoin đồng USD vượt qua các biện pháp kiểm soát vốn của hơn 130 nền kinh tế, thúc đẩy số hóa đồng đô la Mỹ và ускор số hóa đồng đô la Mỹ nhanh hơn